Thứ Tư, 12 tháng 12, 2018

Bức ảnh tự sướng đầu tiên của tàu NASA trên sao Hỏa

Bức ảnh tự sướng đầu tiên của tàu NASA trên sao Hỏa



Tàu vũ trụ InSight xòe rộng các tấm pin mặt trời giữa mảnh đất bằng phẳng, trống trải trong bức ảnh tự sướng đầu tiên gửi về từ sao Hỏa.

Trạm đổ bộ InSight của Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) chụp bức ảnh tự sướng đầu tiên trên hành tinh đỏ, giúp nhóm nghiên cứu trông thấy các tấm pin mặt trời và chắc chắn thiết bị đã được triển khai, Cnet hôm nay đưa tin. InSight cũng gửi về hình ảnh toàn cảnh đầu tiên của khoảng đất rộng 4,2 x 2,1 mét sắp trở thành khu vực làm việc của trạm.


Tàu InSight trong bức ảnh tự sướng đầu tiên. (Ảnh: NASA).

Mỗi bức ảnh được ghép từ nhiều khung hình. Bức ảnh tự sướng chụp bằng cánh tay robot được tổng hợp từ 11 khung hình trong khi ảnh toàn cảnh nơi làm việc là kết quả ghép 52 khung hình. Thông qua hình ảnh truyền về, các nhà khoa học có thể xem xét kỹ khu vực trước khi InSight bắt đầu lắp đặt thiết bị và khoan vào lòng đất.

"Đất đá, đồi núi và hố trũng gần như vắng bóng, có nghĩa điều kiện vô cùng an toàn đối với thiết bị của chúng tôi. Nếu không phải trên sao Hỏa, nơi này trông giống như một vùng đồng bằng. Chúng tôi rất vui mừng khi trông thấy cảnh quan", Bruce Banerdt, nhà nghiên cứu chính trong dự án InSight ở Phòng thí nghiệm Sức đẩy Phản lực của NASA, cho biết.

Các thành viên trong nhóm đang gấp rút chuẩn bị để InSight bắt đầu hoạt động trong vài tháng tới. Trạm đang vận hành cánh tay robot dài hai mét trong tuần này, chụp ảnh địa hình ở phía trước.

Cuối tuần trước, NASA tiết lộ trạm InSight đã ghi lại tiếng lốc cát hay còn gọi là "quỷ bụi" trên sao Hỏa trong những ngày đầu tiên sau khi đổ bộ hành tinh. Theo NASA, đây là lần đầu tiên tiếng gió sao Hỏa được ghi lại. Qua âm thanh trầm thấp do cảm biến của InSight thu lại, nhóm nghiên cứu xác định cơn gió thổi với tốc độ 16 - 24 km/h, từ hướng tây bắc sang đông nam và nằm trong ngưỡng nghe của con người.
Các nhà khoa học tìm cách tạo ra bàn phím siêu mỏng hấp thụ ánh sáng

Các nhà khoa học tìm cách tạo ra bàn phím siêu mỏng hấp thụ ánh sáng



Các chuyên gia của Trường Đại học Nghiên cứu Hạt nhân Quốc gia Nga MEPhI đã chế tạo một loạt bàn phim siêu mỏng đa lớp có thể tạo cơ sở cho ngành điện tử và năng lượng tương lai.

Kết quả đã đạt được nhờ các cuộc nghiên cứu làm sáng tỏ điều kiện của quá trình tổng hợp nhiệt của các cấu trúc dị hóa dựa trên chuyển đổi kim loại dichalcogenides (TMDCs) MoS2, WS2, MoSe2 và WSe2.

Những bàn phim siêu mỏng của disulfua và diselenides của các kim loại chuyển tiếp (ví dụ, molypden và vonfram) có đặc trưng hấp thụ ánh sáng khá hiệu quả. Nguyên nhân của điều đó là các tinh thể của TMDCs có kích thước rất nhỏ vì thế sự hấp thụ ánh sáng có thể diễn ra mà không có sự tham gia của phonon - dao động mạng.

Đồng thời, trên bề mặt các tinh thể nano có thể tạo ra điều kiện để phân tách các phân tử nước thành hydro và oxy. Nhờ đó các bàn phim TMDCs siêu mỏng có triển vọng đầy hứa hẹn trong phản ứng xúc tác quang hoá cũng như để tạo ra nhiều thiết bị quang điện tử hiện đại - từ bộ tách sóng quang đến bộ chuyển đổi quang điện.


Bàn phim siêu mỏng của disulfua và diselenides có đặc trưng hấp thụ ánh sáng khá hiệu quả.

"Điều quan trọng là tạo ra bàn phim đa lớp bằng cách xác định điều kiện cần thiết để tất cả các lớp TMDCs không gây ra thiệt hại cho lớp màng mỏng bằng một vật liệu TMDCs khác đã được áp dụng trước đó. Chúng tôi đã nghiên cứu các điều kiện để tạo ra màng TMDCs siêu mỏng chất lượng cao bằng phương pháp xử lý nhiệt hóa các tiền chất màng mỏng kim loại và oxit kim loại Mo và W trong hơi sulfur hoặc hơi selen, cũng như trong khí hydrogen sulfide", kỹ sư Dmitry Fominsky từ Đại học MEPhI, chuyên trong lĩnh vực lắng đọng xung laser màng mỏng và cấu trúc nano, nói với Sputnik.

Theo ông, các bàn phim đó đã được nghiên cứu có sử dụng các phương pháp hiện đại: kính hiển vi điện tử quét, quang phổ Raman, quang phổ quang điện tử tia X. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, quá trình biến đổi bàn phim chứa Mo trong hơi lưu huỳnh hoặc hydrogen sulfide phụ thuộc vào trạng thái hóa học của "tiền thân" ban đầu, được tạo ra bằng phương pháp lắng đọng bằng xung laser.

Việc sử dụng phương pháp lắng đọng bằng xung laser cho phép tạo ra "phôi tấm"của bàn phim với độ dày và thành phần hóa học nhất định. Điều đó đã giúp các nhà khoa học xác định các điều kiện cần thiết để sunfua hóa hiệu quả các phim Mo và MoOx để tạo ra bàn phim siêu mỏng MoS2 ở nhiệt độ dưới 500°C.

"Chúng tôi cũng đã tạo ra được những bàn phim từ kim loại chuyển tiếp, ví dụ, lớp vonfram diselenide, với mạng tinh thể 2H hoàn hảo. Kết quả nghiên cứu cho phép tạo ra màng bán dẫn siêu mỏng loại Mo (W) SxSe2-x, có các đặc tính hữu ích được điều chỉnh bởi nồng độ kim loại (W / Mo) và chalcogens (S/Se)", chuyên gia Dmitry Fominsky cho biết.

Nhóm các nhà khoa học đã công bố kết quả nghiên cứu tại Hội thảo quốc tế lần thứ 16 "Vật liệu mới: Nhiên liệu hạt nhân có sức chịu đựng cao". Họ lưu ý rằng, những điều kiện về công nghệ và nhiệt độ trong quá trình hình thành molypden sulfua và selenua vonfram rất giống nhau. Tuy nhiên, theo các chuyên gia của Đại học MEPhI, nếu sử dụng những tiền chất (kim loại, oxit kim loại) và phương tiện hoạt động chứa chalcogen, thì có thể lựa chọn các điều kiện cần thiết để tạo ra bàn phim siêu mỏng với những đặc tính cấu trúc và hóa học cụ thể.

Vì các bàn phim có thể hoạt động như chất xúc tác quang học- trong tương lai phát minh này sẽ giúp chiết xuất hiệu quả hơn các thành phần nhiên liệu mặt trời (hydro và oxy) từ nước, mà không sử dụng vật liệu đắt tiền bằng các kim loại nhóm bạch kim.
Phát hiện ra tế bào không bị ảnh hưởng trong môi trường không gian

Phát hiện ra tế bào không bị ảnh hưởng trong môi trường không gian



Các nhà khoa học vừa có một phát hiện vô cùng quan trọng liên quan đến khả năng tự phòng vệ tự nhiên của cơ thể người khi các phi hành gia thực hiện các sứ mệnh du hành liên hành tinh.

Dựa trên nghiên cứu về các mẫu máu lấy từ các thành viên phi hành đoàn trên Trạm vũ trụ quốc tế (ISS), một vài tháng trong không gian không ảnh hưởng đến tế bào B – tế bào sản xuất kháng thể tự nhiên.

Đây là một tin tuyệt vời, bởi nó cũng đồng nghĩa với việc con người hoàn toàn có thể “tự bảo vệ” mình trước các loài vi khuẩn và virus trong không gian. Nó cũng cho thấy tiêm chủng có hiệu quả trong không gian, mặc dù vẫn còn nhiều đặc điểm khác cần phải xem xét.


Tế bào B của con người khi sống trong môi trường không trọng lực không thay đổi.

"Sống trong không gian trong một thời gian dài liên quan đến mức độ căng thẳng tâm lý gia tăng, phơi nhiễm cấp tính và mãn tính với bức xạ không gian và các thay đổi do trọng lực gây ra. Tất cả đều sẽ gây ảnh hưởng xấu đến hệ thống miễn dịch", Guillaume Spielmann, Đại học bang Louisiana (LSU), cho biết.

Tất nhiên, hệ thống miễn dịch của con người không cần phải trong không gian mà ngay trên Trái Đất khi chúng ta không ăn đủ chất, hoặc không ngủ đủ giấc, điều đó có thể khiến chúng ta dễ bị bệnh hơn.

Những nghiên cứu trước đây đã cho thấy miễn dịch của chúng ta có thể bị lẫn lộn trong không gian, số tế bào miễn dịch trở nên kém hoạt động hơn và một số trở nên hoạt động nhiều hơn.

Trước khi chúng ta bắt đầu những chuyến đi dài qua vũ trụ, chúng ta cần biết thêm về những rủi ro tiềm ẩn và nghiên cứu mới nhất này sẽ vô cùng có ích.

Hiện nay, có một số lượng lớn các nghiên cứu về liên quan đến sự thay đổi của con người trong không gian với môi trường không trọng lực. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng cơ thể con người mất mật độ xương trong không gian, trong khi nguy cơ ung thư tăng lên (do tác động của bức xạ của Mặt trời) và nhiều chất lỏng chảy lên đầu.

Thực tế, khi chúng ta càng biết nhiều về hệ thống miễn dịch của con người trong không gian, chúng ta càng có thể bảo vệ mình tốt hơn. Với các loại thuốc bổ sung hoặc bổ sung dinh dưỡng đã được đề xuất là một trong những cách bảo vệ các phi hành gia chống lại bệnh tật. Tuy nhiên, với nghiên cứu mới nhất, chúng ta đã biết thêm về khả năng phòng vệ tự nhiên của cơ thể con người trong môi trường không trọng lực.

Thứ Hai, 10 tháng 12, 2018

Chiếc máy bay không cánh quạt đầu tiên đã cất cánh

Chiếc máy bay không cánh quạt đầu tiên đã cất cánh



Một nhóm nghiên cứu của đại học MIT đã chế tạo chiếc máy bay đầu tiên dùng gió ion, tức hệ thống phản lực không dùng đến cánh quạt hay turbin gió. Các nhà nghiên cứu tính toán rằng hiệu suất của thiết kế có thể tăng gấp đôi chỉ đơn giản bằng cách chế tạo một chiếc máy bay to hơn.



Gió ion

Ở máy bay truyền thống, không khí bị đẩy ra sau bằng các bộ phận chuyển động của máy bay như cánh quạt hay turbin trong động cơ phản lực. Nhưng khoa học đã biết rằng cũng có thể dùng điện trường để đẩy không khí di chuyển.

Khó khăn là ở chỗ: không khí đa phần là các hạt phân tử không tích điện, nên chúng không phản ứng với điện trường. Nhưng ở mức điện áp cao, có thể ion hóa các phân tử nitơ và oxy trong không khí, cũng giống như trong trường hợp sét đánh.

Các electron được giải phóng sẽ di chuyển với tốc độ cao, va chạm với các phân tử khác và lại tiếp tục ion hóa một số phân tử. Nếu điều này xảy ra trong một điện trường, tất cả các ion sẽ bắt đầu di chuyển về phía điện cực đối ngược. Trong quá trình đó, các ion cũng va chạm với các phân tử bình thường và đẩy chúng theo. Các dòng phân tử di chuyển trong không khí như thế này được gọi là gió ion:

Tuy nhiên, các tính toán từ hàng thập niên trước nói rằng không thể tạo ra đủ lực đẩy bằng gió ion. Nhưng nhờ có các cải tiến mới trong công nghệ chế tạo pin, thiết bị điện tử và vật liệu, một nhóm nghiên cứu của MIT đã quyết định đối mặt với vấn đề này.

Họ đã phải giải quyết nhiều vấn đề như:

Điện trường của gió ion càng yếu thì pin sẽ kéo dài càng lâu, nhưng nếu giảm điện trường xuống quá yếu thì sẽ chẳng có gì bị ion hóa cả.

Vì lực đẩy trên đơn vị diện tích là rất thấp, sẽ rất tốt nếu có thể lắp đặt một hệ thống đẩy riêng, nhưng hệ thống này sẽ tăng thêm lực cản và làm chậm máy bay đi nữa.

Sau nhiều lần điều chỉnh thiết kế của máy bay, các nhà nghiên cứu khám phá ra rằng có thể tạo ra lực đẩy đủ lớn để làm cho nó bay được: “Hiệu suất đạt được cho thấy có thể tạo ra máy bay không người lái có cánh gắn cố định và vận hành bình ổn, trong điều kiện giới hạn công nghệ và vật liệu cùng công nghệ điện tử ngày nay.”

Điểm cân bằng

Thiết kế được chọn có mặt trước của cánh là các hàng dây mỏng, nơi sẽ ion hóa nitơ và oxy. Phía sau đó là một lớp kim loại mỏng phủ điện tích, giúp tăng thêm lực nâng và cho phép tạo ra điện trường để tăng tốc các phân tử ion hóa từ hàng dây phía trước cho tới lớp kim loại mỏng.

Thiết bị này cần được gắn pin và các thiết bị điện tử để hoạt động, cũng như cần có cánh và phần thân để biến nó thành một máy bay thực sự. Một vài bộ phận là không có sẵn mà nhóm phải tự thiết kế và chế tạo ra.

Để chế tạo phần thân, nhóm đã viết một thuật toán rồi nhập vào đó các giới hạn yêu cầu, để máy tính tối ưu hóa các lựa chọn trong phạm vi chiều dài cánh cho phép.

Kết quả cuối cùng là một thiết bị có sải cánh 5m, phần thân mỏng chứa pin và các thiết bị điện tử, và ở cuối là phần đuôi. Bên dưới cánh là 4 hàng dây/lớp kim loại mỏng giúp ion hóa. Toàn bộ thiết bị chỉ nặng chưa tới 2,5kg.

(ảnh: MIT)

Khi được một chiếc “máy phóng” bắn đi, chiếc máy bay này có thể lượn xa tới 10m khi tắt điện. Còn khi gió ion được bật lên, nó có thể bay xa tới 60m và thường tăng độ cao khi tăng cường độ điện trường lên. Tính toán đo đạc cho thấy, các thiết bị đẩy tạo ra tổng cộng 5 Newton trên mỗi kilowatt, tức cũng ngang bằng với công suất của động cơ phản lực. Nhưng bởi thiết bị còn nhiều thiếu sót, hiệu suất nói chung chỉ đạt 2,5% – thua xa các máy bay thông thường.

>> Một thời “nữ hoàng của bầu trời”, Boeing 747 sẽ không còn chở khách nội địa ở Mỹ

Tuy vậy, các nhà nghiên cứu chỉ mới đang bắt đầu và họ còn một danh sách dài các cải tiến có thể thực hiện. Chỉ cần dùng cánh lớn hơn và tốc độ cao hơn là có thể tăng hiệu suất lên 5% mà không cần thay đổi gì trong công nghệ. Ngoài ra còn có thể thử các cách tạo ra ion khác, thiết kế điện cực khác giúp giảm lực cản hay dùng các thiết bị điện tử có hiệu năng cao hơn… tất cả đều sẽ góp phần cải tiến thiết bị thêm nữa.

Vẫn còn quá sớm để nghĩ tới các thiết bị bay yên lặng dùng trong thành thị, hay máy bay theo dõi môi trường có thể ở trên không bao lâu tùy thích, và ngược lại, vẫn có khả năng nghiên cứu này sẽ chỉ dừng lại là một vài thí nghiệm bay hiếu kỳ mà thôi. Chúng ta sẽ cần xem xem khi công nghệ phát triển hơn, loại thiết bị này sẽ được cải tiến thêm nữa ra sao.

Bạn có thể xem chiếc máy bay này cất cánh trong video phóng sự sau:

Thứ Hai, 12 tháng 11, 2018

Phát hiện thêm hai "mặt trăng" của Trái đất

Phát hiện thêm hai "mặt trăng" của Trái đất



Được biết tới lần đầu vào những năm 1960, tuy nhiên chỉ mới đây những đám mây bụi lớn có quỹ đạo quay quanh Trái đất mới chinh thức được coi là "mặt trăng".

Theo tạp chí National Geographic, Trái đất của chúng ta có thể không chỉ có riêng một "chị Hằng". Sau hơn nửa thế kỷ phỏng đoán và tranh cãi, các nhà thiên văn học và vật lý học Hungary đã khẳng định sự tồn tại của hai "mặt trăng" khác của Trái đất được tạo nên hoàn toàn từ bụi.


Hình minh họa về vị trí của một trong hai đám mây bụi Kordylewski trong thế tương quan với Trái đất, Mặt trăng và Mặt trời - (Ảnh: NATIONAL GEOGRAPHIC).

Quan điểm khẳng định này được trình bày trong báo cáo khoa học đăng trên tạp chí Monthly Notices of the Royal Astronomical Society. Nhóm nghiên cứu đã cố chụp lại những hình ảnh của các đám mây bụi bí ẩn chỉ cách Trái đất khoảng 250.000 dặm, khoảng cách tương đương của Mặt trăng với Trái đất.

Trước đây các nhà nghiên cứu đã từng nhắc tới sự hiện diện của nhiều "bạn đồng hành" tự nhiên của Trái đất trong vũ trụ. Tuy nhiên phải tới năm 1961 giới khoa học mới nhìn thấy các đám mây bụi với đóng góp của nhà thiên văn học Ba Lan Kazimierz Kordylewski. Để ghi công, những đám mây bụi được đặt tên là Kordylewski.

Nhà thiên văn học người Hungary, Judit Slíz-Balogh, cũng là đồng tác giả công trình nghiên cứu xác thực sự tồn tại của hai "mặt trăng" bị ẩn đi của Trái đất, nêu nhận định: "Các đám mây Kordylewski là những vật thể khó tìm nhất, và mặc dù chúng gần Trái đất như Mặt trăng, song hầu như đã bị các nhà nghiên cứu thiên văn bỏ qua".

"Thật thú vị khi khẳng định hành tinh của chúng ta có những đám mây bụi tựa như vệ tinh quay trong quỹ đạo cùng với người hàng xóm mặt trăng của chúng ta", nhà thiên văn học tiếp.

Theo những phát hiện mới nhất, các đám mây bụi có kích thước rộng hơn gần 9 lần so với Trái đất của chúng ta.
NASA công bố bức ảnh cá heo bơi qua đám mây của sao Mộc

NASA công bố bức ảnh cá heo bơi qua đám mây của sao Mộc



Phi thuyền Juno của NASA đã chụp được những hình ảnh tuyệt vời về những gì trông giống như một con cá heo di chuyển qua đám mây Mộc tinh.

Theo Iflscience, bức ảnh này được chụp vào cuối tháng 10, khi Juno bay vòng thứ 16 quanh gã khổng lồ khí ở khoảng cách 7.000 km.

Như bạn có thể thấy, ở giữa bức ảnh là một hình dạng giống như cá heo đang bơi qua những đám mây Mộc tinh. Sự giống nhau thực sự khá kỳ lạ.
Bức ảnh hình cá heo bơi trên các đám mây của sao Mộc (Ảnh: Twitter)

Sau khi được chụp bởi Juno, bức ảnh được xử lý bởi nghệ sĩ thị giác Seán Doran. Ông đã đăng các hình ảnh trên tài khoản Twitter của mình, gây ra nhiều sự quan tâm.

Trong các bình luận, một số người nghĩ rằng nó trông giống một con cá voi sát thủ hơn. Nhưng đa số đồng quan điểm với Doran rằng nó là một con cá heo.
Khám phá những thiết bị công nghệ theo dõi giấc ngủ

Khám phá những thiết bị công nghệ theo dõi giấc ngủ



Cải thiện thói quen ngủ sẽ giúp cuộc sống của bạn trở nên tốt hơn, trong đó làm thế nào để theo dõi được liệu mình có ngủ đủ giấc không là điều nhiều người mong muốn.

Mặc dù các chuyên gia khuyến cáo bạn nên đặt thiết bị công nghệ khỏi phòng ngủ, nhưng điện thoại vẫn là công cụ hữu dụng nếu bạn muốn theo dõi giấc ngủ. Nó cũng có thể được sử dụng thay thế cho đồng hồ báo thức. Để theo dõi giấc ngủ bằng điện thoại, bạn có các biện pháp sau:

Sử dụng ứng dụng ngủ

Có một số ứng dụng sử dụng gia tốc điện thoại hoặc sóng siêu âm phát ra từ điện thoại để phát hiện chuyển động. Tất cả những gì bạn phải làm là đặt điện thoại lên nệm bên cạnh mình. Mỗi buổi sáng, bạn có thể thấy mình ngủ bao lâu, và bạn di chuyển bao nhiêu trong khi ngủ, từ đó cho thấy liệu bạn có ngủ đủ giấc hay không.

Một số ứng dụng theo dõi giấc ngủ đáng chú ý như: SleepScore, Sleep Cycle hay Sleep Time đều có sẵn cho Android lẫn iOS.

Sử dụng iPhone

Trong ứng dụng Clock, tính năng Bedtime cho phép bạn đặt giờ đi ngủ và thức dậy. Sau khi thiết lập, điện thoại sẽ cảnh báo bạn khi đến giờ đi ngủ để có được giấc ngủ mà bạn mong muốn.


iPhone có sẵn ứng dụng Bedtime giúp theo dõi giấc ngủ của bạn. (ẢNH CHỤP MÀN HÌNH).

Khi tính năng này được bật, điện thoại sẽ chú ý đến thời điểm bạn ngừng sử dụng nó vào ban đêm và khi bạn tiếp cận điện thoại vào buổi sáng để ước tính số giờ bạn ngủ. Bạn có thể thấy dữ liệu đó trong phần Sleep Analysis của ứng dụng Health.

Mặc dù vậy nó không phải là giải pháp hoàn hảo khi điện thoại có thể bị rơi khỏi giường trong quá trình ngủ do sự di chuyển của nệm, và điện thoại cũng có thể quá nhiệt nếu nó được đặt dưới tấm chăn.

Thiết bị theo dõi sức khỏe

Để có một ý tưởng tốt hơn về việc bạn ngủ ngon như thế nào, cách tốt nhất là sử dụng thiết bị theo dõi sức khỏe. Nhiều thiết bị trong số này đã được trang bị tính năng để theo dõi giấc ngủ, bao gồm một số mẫu từ Fitbit, Apple Watch, Motiv Ringvà tất cả thiết bị tương tự. Chúng có thể theo dõi hiệu quả giấc ngủ bằng cách đo chuyển động của bạn suốt đêm.


Apple Watch cũng có thể giúp bạn theo dõi giấc ngủ hằng ngày. (ẢNH: AFP).

Nhưng hãy nhớ rằng vì các thiết bị này không được thiết kế đặc biệt cho giấc ngủ nên hãy kiểm tra kỹ độ chính xác của chúng. Để đảm bảo thiết bị theo dõi sức khỏe không hoạt động quá mức hoặc đánh giá thấp việc bạn đã ra ngoài bao lâu, hãy sử dụng ứng dụng ngủ.

Giường thông minh và cảm biến chuyên dụng

Nếu thực sự nghiêm túc trong việc theo dõi giấc ngủ, hãy thử mua một tấm nệm thông minh hoặc cảm biến đo giấc ngủ chuyên dụng, chẳng hạn như: iFit Sleep HR hoặc Eight Sleep Tracker.

Các cảm biến đặt dưới hoặc trên nệm được dùng để theo dõi chuyển động, cộng với nhịp tim và hô hấp. Chúng sử dụng dữ liệu đó để cho bạn biết bạn mất bao lâu để ngủ. Trong khi đó nệm thông minh làm những điều tương tự, nhưng còn đi kèm chế độ làm mát, sưởi ấm và nhiều tính năng cao cấp khác.


Những chiếc giường thông minh không chỉ phục vụ riêng việc theo dõi giấc ngủ. (ẢNH: AFP).

Lợi ích chính của những thiết bị này chính là có bộ theo dõi chuyên dụng nên độ chính xác cao hơn. Nó cũng không cần buộc người dùng phải đeo dây đeo cổ tay trong khi ngủ hoặc lo lắng nó sẽ hết pin trong đêm.
Máy phát hiện nói dối có độ chính xác nhất xuất hiện

Máy phát hiện nói dối có độ chính xác nhất xuất hiện



Các nhà nghiên cứu vừa tạo ra máy dò nói dối “chính xác nhất” sau khi biết rằng mũi giữ chìa khóa để phát hiện ra nếu ai đó không nói sự thật.

Khi ai đó nói dối, nhiệt độ đầu mũi của họ giảm xuống đến 1,2 độ C trong khi trán tăng lên đến 1,5 độ C. Lý do cho hiện tượng đặc biệt này là nói dối gây ra sự lo lắng, thể hiện chính nó ở nhiệt độ của mũi. Sự khác biệt lớn hơn giữa mũi và trán càng cho thấy nhiều khả năng người đó đang nói dối.

Một trong những nhà nghiên cứu, Emilio Gomez Milan, từ Đại học Granada giải thích: “Nói dối khiến chúng ta phải suy nghĩ, đưa ra lý do và phân tích bối cảnh. Điều này khiến chúng trở thành một gánh nặng nhận thức hoặc yêu cầu chúng ta kiểm soát sự chú ý mạnh mẽ dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ của trán... Nói dối khiến bạn phải suy nghĩ, và đó là lý do tại sao nhiệt độ trán tăng lên cũng như làm giảm nhiệt độ của mũi”.


Có sự thay đổi nhiệt độ giữa trán và mũi đối với người đang nói dối.

Các nhà nghiên cứu đã tận dụng lợi thế của điều này để tạo ra một bài test phát hiện nói dối bằng cách sử dụng máy ảnh hồng ngoại phát hiện các mẫu nhiệt và lưu lượng máu trong cơ thể.

Nghiên cứu này yêu cầu những người tham gia thực hiện cuộc gọi điện thoại cho một người thân yêu, trong đó họ phải nói với người bên kia một lời nói dối có ý nghĩa, chẳng hạn như họ vừa mới thấy một diễn viên nổi tiếng. Nhóm kiểm soát ghi nhận việc nói dối gây ra cảm giác lo lắng được gọi là “Hiệu ứng Pinocchio” trên mũi và ảnh hưởng đến “nỗ lực tinh thần” trên trán, cho phép chúng ta phát hiện ra lời nói dối.


Máy theo dõi nói dối được các nhà nghiên cứu cho biết có độ chính xác đến 80%.

Các nhà nghiên cứu nói rằng phương pháp của họ cung cấp một mức độ chính xác 80%, làm cho nó đáng tin cậy hơn 10% so với các bài test đa giác nổi tiếng. Họ rất tự tin trong thử nghiệm của mình rằng họ đã tuyên bố đó là cách chính xác nhất để thông báo nếu ai đó đang nói dối.
Sự thật đằng sau phát thanh viên AI đầu tiên trên thế giới

Sự thật đằng sau phát thanh viên AI đầu tiên trên thế giới



Hãng thông tấn quốc gia Trung Quốc vừa cho ra mắt người dẫn chương trình thời sự bằng trí tuệ nhân tạo (AI) với vẻ ngoài và cách dẫn tin hệt như con người.

Tân Hoa Xã, hãng thông tấn chính thức của chính phủ Trung Quốc, vừa gây bất ngờ khi công bố AI dẫn chương trình thời sự đầu tiên trên thế giới. Được mô phỏng hình ảnh từ hai người dẫn chương trình của đài, AI có thể tự đọc dẫn và biên tập tin tức bằng Tiếng Anh và Tiếng Trung Quốc.

“Hai người dẫn chương trình AI đã chính thức trở thành thành viên thuộc ban tin tức của Tân Hoa Xã, họ sẽ cùng những biên tập viên khác để biên tập và đưa tin chính xác, kịp thời trong cả hai thứ tiếng trên kênh truyền hình của hãng”, đại diện Tân Hoa Xã cho biết.


Người dẫn chương trình AI trên bản tin Tiếng Anh của Tân Hoa Xã. (Ảnh: New China TV).

Trong bài phát biểu, Tân Hoa Xã cho biết người dẫn AI có thể hoạt động 24 giờ mỗi ngày trên tất cả phương tiện truyền thông, từ trang web đến các trang mạng xã hội và kênh đài, giúp giảm chi phí sản xuất tin bài và nâng cao hiệu quả của công việc.

Hãng thông tấn này đã phát triển công nghệ mới cùng Sogou, công ty sở hữu công cụ tìm kiếm lớn thứ 2 ở Trung Quốc. Các bên liên quan hiện vẫn chưa công bố chính xác họ đã làm điều này như thế nào, nhưng AI đã được trải qua quá trình tập luyện kỹ lưỡng đến mức nó có thể dẫn chương trình tự nhiên như con người.

Cơ quan này cho biết trí tuệ nhân tạo của mình đã tự học cách dẫn tin qua việc quan sát những bản tin thời sự khác. AI khi lên sóng truyền hình sẽ đọc tin từ văn bản đã được soạn trước. “Tôi sẽ làm việc không mệt mỏi để giúp bạn luôn được cập nhật, tin tức được đưa vào hệ thống của tôi sẽ không bao giờ bị gián đoạn”, người dẫn AI nói trong bản tin Tiếng Anh đầu tiên bằng một giọng nói tổng hợp.


Người dẫn chương trình AI trên bản tin Tiếng Trung. Hình ảnh người thật và giọng nói được lấy từ dẫn chương trình Qiu Hao.

Hình ảnh và giọng nói người dẫn chương trình AI được lấy từ người thật, nhưng chuyển động của miệng, nét mặt được tổng hợp từ máy tính. Có thể dễ dàng thấy được, nét mặt vẫn còn hạn chế, giọng nói vẫn mang đậm nét từ âm thanh tổng hợp của robot, khẩu hình được chỉnh sửa cho khớp với ngôn từ chứ không phải được phát ra tự nhiên.

Trí tuệ nhân tạo và công nghiệp truyền thông

Trong thời kỳ mà biên chế biên tập đang ngày càng giảm, lượng thông tin cần đăng tải lại tăng đến chóng mặt, thì các tờ báo đang dần hướng tới AI như một cứu tinh. Hãng thông tấn AP đã bắt tay với công ty Automated Insights và cho ra các bài viết báo cáo dữ liệu từ năm 2014.

BBC News sử dụng Juicer như công cụ lọc thông tin. Công nghệ này lọc thông tin liên tục từ 850 tờ báo trên toàn thế giới và chiết xuất thông tin trích dẫn từ đó. Nó sẽ sắp xếp thông tin theo 4 dạng: tổ chức, địa điểm, con người, sự việc, giúp các phóng viên muốn tìm thông tin sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.


Trí tuệ nhân tạo đã có mặt trong công nghiệp truyền thông và dần thay thế được nhiều việc của con người.

Năm 2016, Reuters kết hợp với công ty công nghệ Graphiq để cho ra mắt hàng loạt các dữ liệu interactive trên nhiều chuyên mục khác nhau như thể thao, giải trí, chính trị, với các con số được cập nhật theo thời gian thực. Đây là cách mới giúp dễ dàng thu hút độc giả và đưa số liệu vào bài viết một cách bắt mắt, không khô khan và dễ hiểu.

Tờ Washington Post đã bắt đầu thí nghiệm báo chí AI bằng cách sử dụng Heliograf. Họ bắt đầu ứng dụng công nghệ này vào hè 2016 để ra mắt các bài viết về thế vận hội Olympic tại Rio de Janeiro, đưa ra các phân tích chính xác về những gì diễn ra và đăng tải trên nhiều nền tảng khác nhau.

Tờ Guardian cũng cho ra mắt Chatbot của mình trên Facebook vào năm 2016. Để tiết kiệm thời gian kéo News Feed xuống xem từng bài viết, chatbot này cho phép người dùng chọn ấn phẩm Mỹ, Anh hay Úc của tờ Guardian, chọn khoảng thời gian đưa tin và nó sẽ tự động gửi các bài viết được nhận định là hay với từng người, mỗi ngày qua tin nhắn trên Facebook Messenger.

Trí tuệ nhân tạo và tham vọng của Trung Quốc

Trung Quốc định hướng phát triển chính mình thành một quốc gia mạnh mẽ về lĩnh vực trí tuệ nhân tạo. Việc công bố công nghệ mới này không chỉ giới thiệu sản phẩm mới trong lĩnh vực công nghệ lẫn ngành truyền thông, mà còn khẳng định năng lực của quốc gia này.

Quốc gia tỷ dân đã liên tục đẩy mạnh việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong cuộc sống thường nhật, từ xe hơi tự lái, tàu ngầm quân sự đến công nghệ nhận diện khuôn mặt phục vụ cho mục đích an ninh. Ngành công nghiệp AI trong nước đã tăng trưởng 67% trong năm qua và tầm nhìn đến năm 2030, nước này sẽ dẫn đầu thế giới về AI.


Chỉ cần dựa vào hình ảnh khuôn mặt, âm thanh giọng nói hay dáng đi, hệ thống trí tuệ nhân tạo và máy chủ khổng lồ của chính phủ Trung Quốc sẽ nhanh chóng xác định được danh tính của một người bất kỳ.

Ở khắp nơi trên đất nước này, có hàng trăm triệu camera theo dõi được đặt để giám sát và nhận diện người dân. Chỉ cần dựa vào hình ảnh khuôn mặt hay âm thanh của giọng nói, hệ thống trí tuệ nhân tạo sẽ nhanh chóng xác định được danh tính của người đó và ghi nhận vào hệ thống.

Vượt xa hơn, công ty Watrix của Trung Quốc vừa cho ra đời công nghệ mới, giúp nhận diện được một người chỉ dựa vào dáng đi của họ. Theo đó, một người dù đứng cách xa 50 mét so với camera theo dõi và che kín mặt mũi, vẫn có thể bị lộ danh tính chỉ vì dáng đi và tỷ lệ chính xác lên đến 94%.

WeChat, nền tảng đa chức năng trực tuyến, xử lý đến 7 tỷ bức ảnh mỗi ngày và phần rất lớn trong số chúng được thực hiện tự động bởi máy tính. Nhưng số hình ảnh này không chỉ xử lý để khiến chúng trở nên đẹp hơn hay gọn nhẹ hơn, mà còn phục vụ cho việc xác minh danh tính của người dùng.
Nữ là XX, nam là XY, nhưng tại sao không có nhiễm sắc thể YY?

Nữ là XX, nam là XY, nhưng tại sao không có nhiễm sắc thể YY?



Ai học sinh vật cũng biết NST giới tính của nữ là XX, của nam là XY. Nhưng tại sao lại cần đến NST X trong nam? Tại sao không phải là YY?

Chắc hẳn bạn còn nhớ bức ảnh minh họa huyền thoại này trong sách giáo khoa sinh học chứ. Nhiễm sắc thể (NST) giới tính dưới góc độ kính hiển vi, nữ là XX và nam là XY.


Bảng NST của nam (trái) và nữ (phải).

Ơ thế còn NST YY thì sao nhỉ? Liệu có tồn tại cặp NST đó không, và nếu không thì tại sao? Về cơ bản, câu trả lời là không. Nhưng để hiểu được tại sao, chúng ta sẽ phải ôn lại một chút kiến thức về nhiễm sắc thể trong cơ thể người.

Con người có 46 NST, chia thành từng cặp, có nghĩa là có 23 cặp NST. Trong đó, 22 cặp là NST thường và 1 cặp còn lại được gọi là NST giới tính. NST thường quyết định những tính trạng cơ bản như chiều cao, màu tóc, màu da, tốc độ chuyển hóa... trong khi đó NST giới tính quyết định giới tính của cá thể.

Có 2 loại nhiễm sắc thể giới tính - X và Y. Nữ giới có 22 NST thường và 2 NST X, tức là 22 + XX, còn nam giới cũng có 22 NST thường và 1 X, 1 Y, tức là 22 + XY.


Cơ chế xác định giới tính.

Qua cơ chế trên, chúng ta hiểu rằng NST X sẽ quy định tính "nữ", trong khi Y là tính "nam". Nhưng nếu thế thì tại sao nam giới không mang cặp YY? Việc mang một X trong bộ NST giới tính có làm họ "nửa nam" (half-man)? Hay cặp YY có làm họ thành "siêu nam" (super-man)?

Đơn giản là vì không thể

NST là nguyên liệu di truyền trong tế bào, nhưng gene mới là thứ thực sự chứa thông tin di truyền, và mỗi NST lại mang một số lượng gene khác nhau.

Vậy nên NST giới tính không chỉ có nhiệm vụ xác định giới tính, mà còn những cấu trúc gene đảm đương hàng trăm vai trò khác. Và rắc rối là ở chỗ NST Y chỉ mang một số lượng gene nghèo nàn - khoảng 60-72 gene. Trong khí đó X mang trên mình đến 800 – 900 gene.


NST là nguyên liệu di truyền trong tế bào, nhưng gene mới là thứ thực sự chứa thông tin di truyền.

Trải qua 300 triệu năm tiến hóa, lượng gene đã giảm mất gần 95% nhưng NST X vẫn chứa số lượng gen đủ đáp ứng cho yêu cầu tồn tại mà một bào thai bắt buộc phải có. Vì vậy, một cá thể muốn tồn tại đòi hỏi ít nhất một NST X. Nếu một sinh vật là YY thì sẽ không phải là siêu nam, mà là siêu... ngủm đấy.

Cơ thể con người có tổng cộng 20.000 gene, trong khí NST X chiếm xấp xỉ 5% trong bộ ADN của một con tinh trùng. Còn Y? Chỉ có 2% thôi.

Ngoài lý do đó thì còn gì không?

X mang những gene quan trọng mà Y không có. Đầu tiên là gene DMD - chịu trách nhiệm quy định Dystrophin. Đây là một loại protein cấu tạo nên cơ vân và cơ tim, có chức năng củng cố và tăng cường cơ bắp, cũng như bảo vệ chúng khỏi tổn thương. Dystrophin còn hiện diện một lượng nhỏ trong tế bào thần kinh, nên có thể nói là nó cực kỳ quan trọng.

Một gene then chốt nữa là CYBB, mang mã quy định protein Cytochrome b-245. Loại protein này rất cần thiết cho enzyme NADPH oxidase - một phần không thể thiếu được của hệ miễn dịch.

Nếu không có các gene trên, một con người không thể sống được. Thế nên con người buộc phải có X, hoặc không thể tồn tại.


Có những người mắc phải hội chứng XYY - tức có thêm một NST Y nữa.

Cũng có trường hợp đột biến nam có thêm một NST Y nữa (Hội chứng XYY - hay hội chứng "siêu nam"). Có điều nếu bạn nghĩ XYY có nhiều đặc điểm của nam giới hơn: như cơ bắp hơn, nam tính hơn, thậm chí là hung dữ hơn... thì bạn đã nhầm rồi.

XYY là một hội chứng bệnh, nên người bệnh sẽ khó mà phát triển bình thường được. Một người mang NST XYY thực chất sẽ có những đặc điểm giống nữ hơn, cơ bắp yếu hơn, trí tuệ giảm sút, đồng thời chậm phát triển hơn.
Dùng công nghệ gene trị HIV: Niềm hy vọng mới của các nhà khoa học Nga

Dùng công nghệ gene trị HIV: Niềm hy vọng mới của các nhà khoa học Nga



Các nhà khoa học thuộc Đại học Khoa học Dược quốc gia Pirogov đã hợp tác với Đại học Quốc gia Moscow và các chuyên gia đến từ Trung tâm Khoa học Kulakov đã tạo ra phôi người với bộ gene xác định khả năng chống lại virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV).

Điều trị nhờ công nghệ gene

Các nhà khoa học điều chỉnh bộ gene của nhiều phôi thành một đơn bào (xygote)nhờ sự giúp đỡ từ hệ thống chỉnh sửa gene CRISPR-Cas9. Từ xygote, họ phân tách ra 32 nucleotide từ chuỗi gene CCR5 mã hóa thụ thể, giúp virus bám vào tế bào máu.

Một số người sở hữu tự nhiên biến thể gene CCR5 đặc biệt và cho thấy tăng sự tăng đề kháng đối với nhiễm HIV. Công nghệ sẽ giúp bảo vệ trẻ em thường có phản ứng tiêu cực với liệu pháp kháng virus không bị lây nhiễm từ mẹ bị HIV.

Bộ gene của phôi người không phải được điều chỉnh trên toàn phôi mà chỉ trên một zygote, được hình thành nhờ kết quả hợp nhất giữa trứng và một tế bào tinh trùng. Một zygote là tế bào đầu tiên từ cơ thể người phát triển. Theo đó, thời điểm thích hợp nhất khi chúng ta có thể thay đổi chương trình di truyền trong cơ thể là ở giai đoạn hợp tử.


Một zygote là tế bào đầu tiên từ cơ thể người phát triển.

Những thách thức phải đối mặt

Một trong những mục tiêu tiềm năng quan trọng đối với y học di truyền là tạo ra phôi kháng HIV. Trong nghiên cứu, việc chọn ra mô hình đặc biệt này không nhiều so với giải pháp của một vấn đề y khoa cụ thể, nhưng vì lợi ích phát triển công nghệ giới thiệu chính xác sự thay đổi đối với bộ gene người ở cấp độ đơn bào.

Với mô hình này, các nhà khoa học không tạo ra một kiểu gene mới, nhưng chỉ thay đổi một biến thể tự nhiên thành một biến thể khác. Một số người, hầu hết dân Bắc Âu có biến thể gene cụ thể từ thụ thể tế bào, chẳng hạn như, thụ thể chemokine 5 (CCR5), mà virus gây suy giảm miễn dịch thấy khó chịu khi cố bám vào bề mặt tế bào. CCR5 sẽ biến thành một thụ thể phòng vệ để bảo vệ tế bào người khỏi sự xâm nhập của virus. Người mang biến thể CCR5 được miễn nhiễm tự nhiên khỏi HIV.

Bản thân người nhiễm HIV ngày nay không còn là trở ngại đối với chức năng sinh sản. Các bà mẹ dùng thuốc kháng virus có thể sinh con không nhiễm HIV. Tuy nhiên, có người phản ứng với liệu pháp kháng virus do cơ thể yếu hơn, rõ ràng do tính chất đặc thù trong bộ gene của họ. Và, nếu họ muốn có con, nguy cơ sinh con nhiễm HIV sẽ cao hơn so với mức trung trung bình. Trong tương lai, y học có thể giúp những phụ nữ này bằng công nghệ tạo ra kháng thể trong thai nhi chống lại HIV để tránh nguy cơ bị lây nhiễm.
Những hiểu nhầm về ung thư: Từ "hóa chất" trong thực phẩm đến wifi

Những hiểu nhầm về ung thư: Từ "hóa chất" trong thực phẩm đến wifi



Có những điều chỉ là cường điệu về nguy cơ dẫn tới ung thư trong cuộc sống – nhưng lại ngày càng trở nên phổ biến. Đâu là sự thật và sự hư cấu?

Điện thoại di động và wifi

Ở Mỹ, hầu như không ai sử dụng điện thoại di động vào năm 1992. Đến năm 2008, việc sử dụng điện thoại di động đã lan rộng, nhưng số người bị u não hầu như không thay đổi. Nghiên cứu Interphone của Tổ chức Y tế Thế giới, khảo sát hàng ngàn người trên khắp 13 quốc gia trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2006, cũng nhận thấy rằng điện thoại di động không làm tăng nguy cơ bị u não.

Về cơ bản, ung thư là do DNA của chúng ta bị hỏng mà vẫn nhưng quá trình phân chia và tái tạo tế bào lại vẫn diễn ra giống như cơ thể vẫn đang khỏe mạnh bình thường. Bức xạ ion hóa, chẳng hạn như trong tia X hoặc xạ trị, mang một lượng năng lượng khổng lồ, còn điện thoại di động chỉ mang một lượng năng lượng nhỏ. Phá vỡ hoặc gây tác động lên DNA đòi hỏi rất nhiều năng lượng, vượt xa khả năng của điện thoại di động. Wifi còn truyền năng lượng ít hơn so với điện thoại di động.


Điện thoại không làm tăng nguy cơ ung thư não.

“Nhìn chung, bằng chứng hiện tại về mối quan hệ nhân quả giữa bức xạ RF (tần số vô tuyến) từ điện thoại di động và ung thư được tìm thấy là rất yếu hay không tồn tại”.Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế liệt kê điện thoại di động vào nhóm “có thể gây ung thư”, nhưng phân loại này chỉ có nghĩa là có thể có một liên kết giả định không thể loại trừ, hơn là khả năng gây ung thư thực sự.

Thực phẩm hữu cơ

Có một niềm tin phổ biến, được tuyên truyền bởi nhiều blogger không có chuyên môn, rằng thực phẩm hữu cơ có đặc tính “chống ung thư”. Tuy nhiên, Michelle McCully, người đứng đầu nhóm Giải thích nghiên cứu tại Quỹ nghiên cứu Ung thư thế giới, một trong những cơ quan hàng đầu thế giới về chế độ ăn uống và ung thư, nói: “Hiện tại chưa có bằng chứng rõ ràng nào để ủng hộ ý tưởng các sản phẩm hữu cơ tăng khả năng chống ung thư so với thực phẩm trồng thông thường”.

Hóa chất và ô nhiễm

“Hóa chất” là một từ bị hiểu lầm nhiều - tất cả mọi thứ, kể cả không khí chúng ta hít thở, là một “hóa chất”. Các quy định của EU bảo vệ chúng ta khỏi sự tiếp xúc với các mức hóa chất công nghiệp có thể gây hại cho sức khỏe. Có một phần nhỏ nguy cơ ung thư phổi liên quan đến ô nhiễm không khí, nhưng xem xét toàn diện trong bối cảnh sinh sống của mỗi cá nhân thì thấy rằng nguy cơ [dẫn tới ung thư phổi] này cho mỗi cá nhân là rất nhỏ.

Katie Edmunds từ Cơ quan nghiên cứu ung thư Anh nói: “Trong thời đại của tin giả, có rất nhiều ‘lời đồn đại’ liên quan đến ung thư mà mọi người không cần phải lo lắng, chẳng hạn như sử dụng chai nhựa hoặc chất khử mùi”.

Nguy cơ do béo phì

Thực tế, có một số khía cạnh của lối sống hiện đại của chúng ta cũng làm tăng nguy cơ bị ung thư nhưng cần lưu ý dựa vào các khuyến nghị phòng chống ung thư của Quỹ Nghiên cứu Ung thư Thế giới – vốn dựa trên những bằng chứng nghiên cứu chặt chẽ qua nhiều thập kỷ.

Theo Emma Shields, ở Cơ quan Nghiên cứu ung thư Vương quốc Anh, nói: “Béo phì là nguyên nhân gây ung thư lớn thứ hai có thể ngăn chặn được ở Anh. Mỗi năm, khoảng 22.800 trường hợp ung thư là do thừa cân hoặc béo phì. Mặc dù vậy, chỉ có 15% số người nhận thức được mối liên kết này”.

Ít vận động và uống nhiều rượu là những yếu tố nguy cơ khác. Ngoài ra bất cứ ai muốn cải thiện sức khỏe của mình thông qua chế độ ăn uống nên đặc biệt thận trọng về trình độ của người tư vấn cho mình. Chuyên gia dinh dưỡng, những người dành nhiều năm đào tạo y khoa, là những người tốt nhất để tham vấn.

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2018

Những sự thật về ung thư có thể bạn chưa biết

Những sự thật về ung thư có thể bạn chưa biết



Ung thư hiện đang là mối quan tâm về sức khỏe hàng đầu của nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng.

Chúng ta có rất nhiều sự quan tâm nhưng lại có rất ít hiểu biết về chúng. Vì thế, nhiều người trong số chúng ta vẫn thường hiểu nhầm về căn bệnh này qua những nguồn thông tin không chính thống và thiếu chính xác. Có rất nhiều người tin rằng sử dụng các loại siêu thực phẩm có thể giúp điều trị ung thư, và việc này chỉ khiến bệnh tình trở nên tệ hơn.

Vậy, ung thư là gì và nên chữa trị như thế nào?


Ung thư là một tên chung chỉ 100 loại bệnh khác nhau.

Đầu tiên bạn phải hiểu rằng: Ung thư không phải là một loại bệnh

Hẳn chúng ta ai cũng từng tự hỏi: “Sao đến giờ y học hiện đại vẫn chưa trị được bệnh ung thư?”

Đây có lẽ là hiểu nhầm phổ biến nhất trong đại chúng khi nhắc đến bệnh ung thư. Chúng ta hay dùng cụm từ “bệnh ung thư” như thể là một loại bệnh. Trong khi sự thật ung thư là một tên chung chỉ 100 loại bệnh khác nhau, và đó là lý do đến giờ y học hiện đại vẫn chưa “trị được bệnh ung thư”. Đơn giản đó là vì y học hiện đại đang cố trị hơn 100 loại bệnh khác nhau, có những cái họ đã trị được, có cái họ sắp trị được, và có cái còn rất lâu mới trị được.


Có những khối u lành tính dễ dàng bị cắt bỏ, nhưng có những khối u ác tính, phá hoại cơ thể và lan sang những chỗ khác.

Hãy cùng nhau tìm hiểu kỹ hơn. Chúng ta đều biết tế bào trong người chúng ta luôn sinh sôi để tạo ra tế bào mới thay thế tế bào cũ, và sự sinh sôi này luôn được kiểm soát. Ví dụ tế bào móng tay sẽ sinh sôi ra một tế bào móng tay khác, chứ không phải là da. Thế nhưng quá trình sinh sản này không phải luôn chính xác, sẽ luôn có tế bào sản sinh không đúng chức năng. Tuy vậy chúng sẽ bị cơ chế kiểm soát của cơ thể phát hiện và loại bỏ, nhưng không may, có những kẻ xấu may mắn thoát được và sinh sôi mạnh hơn, thoát ra vòng kiểm soát. Khi chuyện đó xảy ra, chúng tạo ra các khối u. Có những khối u lành tính dễ dàng bị cắt bỏ, nhưng có những khối u ác tính, phá hoại cơ thể và lan sang những chỗ khác. Các khối u ác tính đó là bọn ung thư khốn nạn. Những tế bào ung thư này chúng sinh sôi mạnh mẽ và lan qua cả những nơi khác của cơ thể, khi đó người ta gọi là di căn. Khi tế bào ung thư bắt đầu di căn, chúng sẽ bám vào các cơ quan nội tạng khác và ăn hết chất dinh dưỡng của cơ quan đấy. Ngoài ra chúng cũng thâm nhập và phá các cấu trúc của cơ quan nội tạng. Tất cả những điều này khiến các cơ quan trọng yếu của cơ thể như gan, thận, không thể hoạt động được và dần dần giết chết người bệnh. Nhưng di căn không làm thay đổi bản chất của chúng, tế bào ung thư phổi di căn ra xương thì chúng vẫn là tế bào ung thư phổi.


Tế bào ung thư này chúng sinh sôi mạnh mẽ và lan qua cả những nơi khác của cơ thể, khi đó người ta gọi là di căn.

Sự khác nhau giữa các loại ung thư là gì? Đó là cách chúng sinh sôi khác nhau, và chúng phản ứng khác nhau với những biện pháp điều trị khác nhau. Có tế bào sinh sôi nhanh, có tế bào sinh sôi chậm, có cái dễ phát hiện, có cái ẩn mình nhiều năm, đến lúc bị phát hiện thì bệnh đã vào giai đoạn cuối. Có loại ung thư phải điều trị bằng cách phẫu thuật, có loại ung thư phải dùng xạ trị. Thường người ta sẽ dùng nhiều biện pháp khác nhau cùng lúc.


ó loại ung thư phải điều trị bằng cách phẫu thuật, có loại ung thư phải dùng xạ trị.

Vậy điều gì gây ra ung thư? Những yếu tố góp phần tăng khả năng bạn bị ung thư làthứ nhất lão hóa. Khi bạn già đi, các tế bào không hoạt động tốt như trước, cơ chế phòng vệ của cơ thể yếu, do đó tế bào lỗi được sinh ra nhiều hơn và phát triển dễ hơn, dễ biến thành khối u ung thư. Yếu tố di truyền, chế độ ăn uống và môi trường sống cũng là nguyên nhân lớn gây ra bệnh ung thư. Có những chất hóa họcnếu hấp thụ liên tục với lượng lớn vào cơ thể người sẽ làm tăng nguy cơ bị ung thư.


Có nhiều nguyên nhân gây ra ung thư như: lão hóa, di truyền, chế độ ăn uống...

Có loại đồ ăn nào có thể diệt ung thư hay không? Chúng ta hay nghe đến những siêu đồ ăn có thể giết chết tế bào ung thư, hay là loại thuốc thần kỳ nào đó diệt gọn tế bào ung thư. Mấy lời quảng cáo đó có đúng không? Câu trả lời là có, nhưng khả năng cao là nó diệt luôn người bệnh. Oops! Bởi vì tế bào ung thư vừa có sức sống cực kì mạnh, so với các tế bào bình thường trong cơ thể nó như là siêu nhân vậy, và tệ hơn là nó luôn bám sát vào các cơ quan nội tạng trong cơ thể. Một loại thực phẩm trong tự nhiên có đủ độc tố để giết chết tế bào ung thư thì khả năng cao thì nó cũng phá nát nội tạng của bạn luôn.


Chẳng có loại thực phẩm nào có thể tiêu diệt được tế bào ung thư cả.

Cần phải hiểu rằng thực phẩm đóng vai trò hỗ trợ trong việc điều trị ung thư như cung cấp thêm chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể phục hồi, giúp cơ thể mau chóng hồi phục những mô, tế bào bị hư hại. Do đó thực phẩm vẫn rất quan trọng, nhưng nói rằng chỉ cần ăn uống mà diệt được bệnh ung thư thì là giấc mơ hão huyền.


Chỉ cần ăn uống mà diệt được bệnh ung thư thì là giấc mơ hão huyền.

Do đó “câu hỏi triệu phú” ở đây đó là: làm sao tiêu diệt tế bào ung thư mà vẫn giữ được mạng sống của người bệnh? Đó là vấn đề lớn nhất của y học hiện nay. Các bác sĩ phải luôn khám và theo dõi người bệnh thật kỹ để có thể đưa ra đúng loại hình điều trị cho từng loại bệnh ung thư. Các bác sĩ cũng phải cân nhắc kỹ về thuốc, nồng độ hóa trị, xạ trị để đảm bảo rằng những thứ đó chỉ tác động lên tế bào ung thư, giảm hư tổn cho tế bào chung quanh. Tuy vậy việc các tế bào chung quanh bị ảnh hưởng bởi các liệu pháp trị ung thư là không tránh khỏi. Đó là lý do những người điều trị xạ trị hay hóa trị bệnh ung thư trước đây thường bị rụng tóc, gầy gò, hay nôn mửa, mất cảm giác ăn, bởi vì các hóa chất diệt bệnh ung thư cũng đã tác động xấu lên nội tạng của họ. Bây giờ thì các liệu pháp hiện đại đã giảm nhẹ đi các vấn đề này rồi.


Các liệu pháp điều trị ung thư.

Hiểu và điều trị bệnh ung thư

Như vậy trả lời ngắn gọn, chế độ dinh dưỡng tốt chỉ giúp bạn giảm thiểu khả năng bị ung thư chứ không giúp bạn diệt được ung thư. Nghĩ đơn giản, không có một chế độ ăn nào giúp trị được hơn 100 loại bệnh khác nhau cả. Nếu ai đó nói với bạn rằng loại thực phẩm chức năng hay thực phẩm họ đang bán có thể giúp trị ung thư, là họ đang lừa để bán hàng cho bạn đấy.


Khi phát hiện có bệnh ung thư, người bệnh chỉ có một cách duy nhất là đi điều trị ở bệnh viện.

Để đối phó với bệnh ung thư, một người cần thường xuyên đi khám sức khỏe. Bệnh ung thư khi phát hiện sớm hoàn toàn có thể chữa khỏi.

Khi phát hiện có bệnh ung thư, người bệnh chỉ có một cách duy nhất là đi điều trị ở bệnh viện. Đừng bao giờ tin vào các liều thuốc gia truyền, hay là những bài thuốc dân gian đọc trên mạng cũng như truyền miệng, hay là tin rằng ăn những loại siêu thực phẩm thì sẽ khỏi bệnh, mà không cần gặp bác sĩ. Làm như thế thì tốn tiền mà thời gian sống còn bị rút ngắn thêm, và chất lượng cuộc sống cũng tồi tệ đi.
Ăn uống khoa học dựa vào nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị

Ăn uống khoa học dựa vào nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị



Khuyến nghị về nhu cầu dinh dưỡng giúp lựa chọn thực phẩm cung cấp năng lượng; chất đạm, chất bột đường, chất béo, vitamin, chất khoáng phù hợp cho trẻ.

Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị (Recommended Dietary Allowance - RDA) là mức dinh dưỡng mà mỗi người nên tiêu thụ về năng lượng, các thành phần dinh dưỡng cơ bản được coi là đầy đủ giúp cơ thể duy trì sức khỏe.

Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị RDA khác nhau tùy theo giới tính, độ tuổi, mức độ hoạt động thể lực, tình trạng sinh lý. Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Đỗ Thị Ngọc Diệp, Phó Chủ tịch Hội Dinh dưỡng Việt Nam, khi xây dựng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị, các quốc gia còn phải dựa vào khả năng cung cấp thực phẩm, thói quen ăn uống và tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe của cộng đồng để các khuyến nghị dinh dưỡng đảm bảo khoa học, phù hợp.

Theo nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng, nhu cầu năng lượng cho trẻ 0-5 tháng là 550kcal một ngày; trẻ trai 6-8 tháng là 650kcal, trẻ gái 600kcal... Từ 6-7 tuổi, tùy theo hoạt động ở mức nhẹ, trung bình, nặng mà nhu cầu sẽ khác nhau. RDA ở các quốc gia thường có khuyến nghị về năng lượng, chất dinh dưỡng sinh năng lượng chính gồm chất đạm; bột đường; béo; vitamin, khoáng chất, chất xơ.

Bảng nhu cầu năng lượng từng độ tuổi, đơn vị tính: kcal


Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ chức Lương thực - Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), đã có nhiều quốc gia đưa ra khuyến nghị về nhu cầu dinh dưỡng giúp người dân có lựa chọn thực phẩm phù hợp.

Bác sĩ Ngọc Diệp cho biết, RDA còn có vai trò xây dựng chế độ ăn phù hợp, hạn chế tình trạng thiếu dinh dưỡng dẫn đến suy dinh dưỡng, thấp còi hoặc thừa cân, béo phì. Ví dụ, để không thiếu hụt chất đạm, trẻ trai 6-7 tuổi cần cung cấp 33g mỗi ngày, 8-9 tuổi là 40g, 50g cho trẻ 10-11 tuổi; chất bột đường lần lượt là 210-230g, 250-270g, 290-320g...

Cha mẹ có thể tham khảo RDA để cung cấp thực phẩm tự nhiên (rau, củ, quả, thịt, cá, trứng...) có các nhóm chất cần thiết, năng lượng mỗi ngày cho cơ thể. Với thực phẩm chế biến sẵn, từ RDA, các chuyên gia dinh dưỡng đưa ra hướng dẫn thực hành; nhà sản xuất đưa ra thông tin dinh dưỡng trên nhãn bao bì thực phẩm (Nutrition information hoặc Nutrion facts).

Bác sĩ Ngọc Diệp cho biết thêm, hiện nay đã có nhiều quốc gia có quy định sản phẩm thực phẩm chế biến công nghiệp phải công bố thông tin về dinh dưỡng với các nội dung cơ bản như năng lượng, thành phần chất đạm, chất béo, chất bột đường, muối, đường, chất béo bão hòa, chất béo trans fat, một số vitamin, một số chất khoáng cũng như tỷ lệ đáp ứng nhu cầu khuyến nghị về dinh dưỡng (Percent of daily value - % DV).

Quy định này không chỉ nhằm hỗ trợ người tiêu dùng có thông tin để xây dựng chế độ ăn hợp lý, khuyến khích nhà sản xuất đưa ra sản phẩm cân đối dinh dưỡng, giúp cơ quan quản lý dễ dàng hơn mà còn nâng cao sức khỏe, phòng ngừa bệnh không lây nhiễm đang gia tăng nhanh chóng. Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam cũng đang khuyến khích các nhà sản xuất thực phẩm thực hiện theo thông lệ quốc tế nêu trên.

Hướng dẫn tham khảo nhãn dinh dưỡng trên bao bì

Thông tin dinh dưỡng trên sản phẩm còn gọi là nhãn dinh dưỡng tác động trực tiếp đến người tiêu dùng. Dưới đây là một số hướng dẫn để phụ huynh tham khảo thông tin trên nhãn dinh dưỡng.


Nhãn bao bì sản phẩm cho phụ huynh có thêm thông tin về dinh dưỡng để lựa chọn thực phẩm chế biến sẵn phù hợp nhu cầu của con.

Lượng khẩu phần (serving size): phụ huynh xem khẩu phần ở phía trên cùng của nhãn dinh dưỡng thực phẩm. Đơn vị tính của khẩu phần được chuẩn hóa trên nhãn như gam hoặc một cốc, một gói, một phần ăn... Chẳng hạn, khẩu phần trên sản phẩm này là một cốc (trọng lượng 228g).

Tổng năng lượng và năng lượng từ chất béo (calories và calories from fat):trong mỗi khẩu phần của sản phẩm gồm lượng calories mà một khẩu phần ăn cung cấp và lượng calories cung cấp từ chất béo trong sản phẩm. Ví dụ, mỗi khẩu phần cung cấp 250 calo, trong đó có 110 calo từ chất béo.

Lượng chất béo (total fat): chất béo của sản phẩm được chia ra thành tổng lượng chất béo (total fat), chất béo chuyển hóa (trans fat) và chất béo bão hòa (saturated fat).

Cholesterol và natri (cholesterol và sodium): là những chất cần hạn chế hấp thu, thường có màu vàng, chất khuyến khích hấp thu có màu xanh. Nếu hấp thu nhiều cholesterol và muối có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh như tim mạch, tăng huyết áp, ung thư... Ví dụ sản phẩm này có cholesterol là 30mg, 470mg natri.

Chất bột đường (carbohydrate) và chất đạm (protein): chất bột đường và đạm là những nhóm chất quan trọng hàng ngày. Tổng lượng chất bột đường (total carbohydrate) trong sản phẩm nêu trên còn bao gồm 5g đường (sugar) nhưng không có chất xơ (dietary fiber). Một số quốc gia bắt buộc công bố cholestorol, muối, trans fat, đường vì muối chứa nhiều natri gây tăng huyết áp, đường làm tăng nguy cơ béo phì, trans fat dễ dẫn đến các bệnh tim mạch...

Vitamin và chất khoáng: các nhóm chất có màu xanh được khuyến khích hấp thu như vitamin A, vitamin C, canxi (calcium), sắt (iron).

Giá trị dinh dưỡng hàng ngày (Percent of daily value, gọi tắt % DV): cho biết sản phẩm cung cấp bao nhiêu % nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị RDA cho cơ thể cho một người trong một ngày.

Cách đọc nhãn dinh dưỡng trên bao bì: Bác sĩ Ngọc Diệp chia sẻ, nếu muốn đọc nhãn dinh dưỡng của sản phẩm chế biến sẵn để xem con đáp ứng được bao nhiêu % nhu cầu khuyến nghị về dinh dưỡng (RDA), các bậc cha mẹ trước tiên phải biết mức năng lượng theo nhu cầu khuyến nghị của con mình là bao nhiêu, xem trên bao bì công bố thành phần dinh dưỡng trong thực phẩm; các thành phần như chất đạm, đường, béo...; trọng lượng trong thành phần (có thể tính bằng g, mg...); giá trị dinh dưỡng hàng ngày (% DV) cho biết sản phẩm cung cấp bao nhiêu % nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho cơ thể.

Ví dụ, thành phần sản phẩm có chứa tổng lượng chất béo (total fat), trọng lượng là 12g, tổng lượng chất béo so với nhu cầu khuyến nghị chiếm 18%. Sản phẩm có chứa chất bột đường (carbohydrate), trọng lượng là 31g, tổng lượng chất bột đường (total carbohydrate) so với nhu cầu khuyến nghị chiếm 10%. Chất xơ không có trong sản phẩm (dietary fiber 0%)... Lưu ý, tìm chú thích để biết phần trăm (%) nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị được tính trên mức nhu cầu năng lượng nào nhằm tránh không phù hợp với con mình. Ví dụ trong sản phẩm nêu trên là so sánh với mức năng lượng mỗi ngày 2.000kcal.

Khi sử dụng thực phẩm chế biến sẵn, phụ huynh thường chưa có thói quen đọc thông tin dinh dưỡng trên sản phẩm mà quyết định dựa trên thích thú của bản thân hoặc sở thích của trẻ, hình thức sản phẩm, quảng cáo, khuyến mãi, thương hiệu... nên có thể chưa chọn thực phẩm khoa học giải quyết vấn đề dinh dưỡng cho con. Phụ huynh nên tham khảo nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị, tháp dinh dưỡng, nguồn thông tin chính thống, lựa chọn dựa vào tình hình sức khỏe của con.
Lỗ đen vũ trụ có thể làm sống lại những ngôi sao “zombie”

Lỗ đen vũ trụ có thể làm sống lại những ngôi sao “zombie”



Các nhà khoa học phát hiện ra một số lỗ đen có thể làm sống lại những ngôi sao đã chết và sau đó lại hủy diệt chúng.

Lỗ đen là những “vật thể” không nhìn thấy được trong không gian, ở đó trọng lực lớn đến mức nó hút tất cả mọi thứ vào trong, kể cả ánh sáng. Cho đến nay, tất cả các lỗ đen mà các nhà thiên văn học tìm thấy thì một là cực kì lớn, lớn bằng hàng trăm nghìn thậm chí hàng trăm tỉ lần kích thước Mặt Trời, hai là cực kì nhỏ, nhỏ hơn hàng trăm lần Mặt Trời.

Các nhà thiên văn học chưa xếp bất cứ lỗ đen nào vào loại trung bình, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng không tồn tại.


Các phép mô phỏng của siêu máy tính cho thấy chuyện sẽ xảy ra khi một ngôi sao chết đến gần một lỗ đen: Những ảnh ở hàng trên cho thấy mật độ và ảnh dưới cho thấy nhiệt độ.

Một nhóm nhà khoa học ở Phòng thí nghiệm quốc gia Livermore Lawrence, bang California, Mỹ, nghi ngờ rằng các lỗ đen cỡ trung bình có lực hút phù hợp để có thể kích hoạt sự sống cho các ngôi sao lùn màu trắng, hay chính là những ngôi sao đã chết có kích thước bằng Mặt Trời nhưng đã hết năng lượng hạt nhân.

Để kiểm chứng nhận định của mình, họ đã cho chạy các phép mô phỏng trên siêu máy tính hàng chục kịch bản khác nhau về sự va chạm có thể xảy ra khi những ngôi sao này đến gần các lỗ đen có kích thước trung bình. Kết quả cho thấy mỗi khi một ngôi sao lùn màu trắng đến gần lỗ đen Goldilocks thì ngôi sao đó sống lại.

Lực hút của lỗ đen làm cho vật liệu của ngôi sao chết hợp nhất lại thành những khối lượng can xi và sắt, càng đến gần lỗ đen thì ngôi sao chết càng có nhiều sắt. Đây được gọi là quá trình tổng hợp hạt nhân và nó sẽ làm sống lại ngôi sao đã từng chết một lần.

Các nhà khoa học cũng phát hiện ra rằng khi ngôi sao sống lại, nó sẽ tạo ra những sóng điện từ mà các máy thu gần Trái đất có thể bắt được, có nghĩa là chúng ta có thể “nhìn” thấy hiện tượng đó xảy ra ở đâu và tìm được lỗ đen làm cho ngôi sao đó sống lại.

Tuy nhiên, ngôi sao sống lại sẽ không sáng mãi. Lỗ đen mang lại sự sống cho ngôi sao kia rồi sẽ lại hủy diệt nó. Các nhà khoa học giải thích đó là vì khi ngôi sao hình cầu tiếp cận lỗ đen, lực thủy triều bắt đầu nén ngôi sao theo một phương vuông góc với mặt phẳng quĩ đạo và kích hoạt làm nó sống lại. Nhưng sau đó trong phạm vi mặt phẳng quĩ đạo, những trọng lực này kéo căng ngôi sao đó và xé tan nó thành từng mảnh.

Lỗ đen, hay con quái vật hút mọi vật chất, vẫn đầy sức mạnh bí hiểm là như vậy.
Phát minh lại bồn cầu, tỷ phú Bill Gates sẽ tiết kiệm cho thế giới 233 tỷ USD

Phát minh lại bồn cầu, tỷ phú Bill Gates sẽ tiết kiệm cho thế giới 233 tỷ USD



Theo tỷ phú Bill Gates, việc phát minh lại bồn cầu và nhà vệ sinh cũng là một cơ hội kinh doanh béo bở.

Tỷ phú Bill Gates có một niềm tin mãnh liệt vào tầm quan trọng của nhà vệ sinh. Ông cược lớn rằng việc phát minh lại những chiếc bồn cầu có thể cứu sống hơn 500.000 người và tiết kiệm hơn 200 tỷ USD.

Quỹ từ thiện Bill & Melinda Gates Foundation đã đầu tư hơn 200 triệu USD trong suốt 7 năm qua, để nghiên cứu về vấn đề vệ sinh và môi trường. Đã có rất nhiều ý tưởng và thiết kế thú vị giúp giải quyết vấn đề chất thải, chuyển hóa các chất thải con người thành nước sạch và phân bón.


Tỷ phú Bill Gates.

“Những công nghệ mà bạn thấy ở đây chính là những tiến bộ quan trọng nhất của vấn đề vệ sinh và môi trường trong 200 năm qua”, tỷ phú Bill Gates chia sẻ tại Hội chợ triển lãm tái phát minh nhà vệ sinh, diễn ra ở thành phố Bắc Kinh.

Ông cho biết thêm rằng, trong chất thải con người có khoảng 200 nghìn tỷ tế bào virus, 20 tỷ vi khuẩn, 100.000 trứng giun ký sinh. Và một phương pháp mới giúp loại bỏ toàn bộ những tác nhân gây hại này, sẽ giúp cứu sống hơn 500.000 người và tiết kiệm cho thế giới 233 tỷ USD.

Một phương pháp mà Viện Công nghệ California đưa ra, theo Bill Gates là “siêu thú vị”, đó là sử dụng lò phản ứng điện hóa để phân hủy nước và chất thải con người thành phân bón và hydro. Hydro có thể được lưu trữ trong các tế bào năng lượng hydro để dùng làm năng lượng.


Có thể sử dụng lò phản ứng điện hóa để phân hủy nước và chất thải con người thành phân bón và hydro.

Xử lý chất thải của con người thực sự là một cơ hội kinh doanh béo bở. Cố vấn cấp cao của Unicef, ông Guy Hutton cho biết: “Việc xử lý chất thải của con người đúng cách là một đầu tư hấp dẫn. Với nhu cầu chưa được đáp ứng của 2,3 tỷ người, đây thực sự là một thị trường tiềm năng và đem lại nhiều lợi ích cho cả xã hội”.

Các công ty và startup công nghệ hoàn toàn có thể coi đây như một cơ hội kinh doanh, nếu như họ đưa ra được giải pháp hợp lý, Bill Gates khẳng định. Cũng tại Hội chợ triển lãm tái phát minh nhà vệ sinh, có rất nhiều công ty công nghệ góp mặt như Sedron Technologies của Mỹ, Eram Scientific Solutions của Ấn Độ, CRRC Corp và EcoSan của Trung Quốc.

Tỷ phú Bill Gates chia sẻ một cách hài hước rằng: “Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ là một chuyên gia về vấn đề này. Tôi và Melinda không ngừng nói về nhà vệ sinh, bồn cầu và phân trên bàn ăn”.

Bồn cầu không tốn nước, phát kiến tuyệt vời được Bill Gates tài trợ
Thực chất của sao Bắc đẩu

Thực chất của sao Bắc đẩu



Bắc đẩu là ngôi sao sáng nhất trong chòm sao Đại Hùng. Với người quan sát ở Bắc bán cầu, nó chiếm một vị trí đặc biệt. Chỉ lệch nửa độ so với trục Trái đất, nên khi Trái đất quay theo chu kỳ ngày đêm, Bắc đẩu hầu như đứng yên ngay trên cực Bắc.

Trong thiên văn học hiện đại, ngôi sao này là một mảng sao gồm 7 ngôi, là bảy ngôi sáng nhất nằm trong ranh giới của chòm sao Đại Hùng tại Bắc bán cầu. Chòm Đại Hùng Tinh ngoài 7 ngôi còn nhiều ngôi sao khác.

Người Phương Tây cũng đặt tên riêng cho các ngôi sao này. Sau khi được hệ thống hóa trên bản đồ thiên văn, các ngôi sao đều có tên khoa học thiên văn theo chòm sao Ursa Major.

"Sao Bắc Đẩu" là cách gọi dân gian nói về một nhóm sao bao gồm nhiều ngôi sao.


Vị trí 7 Nhóm sao Bắc Đẩu sáng giữa bầu trời.

Vì Trái đất hình cầu nên vị trí của Bắc đẩu đối với đường chân trời phụ thuộc vị trí người quan sát. Cụ thể, góc giữa chân trời phía bắc và Bắc đẩu chính bằng vĩ độ của người quan sát. Chẳng hạn, nhìn từ xích đạo (vĩ độ 0), Bắc đẩu nằm ở chân trời bắc. Khi di chuyển tới Houston, bang Texas (vĩ độ 30), Bắc đẩu nằm cao 30 độ so với chân trời. Còn khi di chuyển tới đúng cực Bắc, Bắc đẩu nằm cao 90 độ so với chân trời, tức nằm ngay trên đầu người quan sát.

Trong quá khứ, giới thủy thủ phương bắc đo góc giữa chân trời và Bắc đẩu để xác định vĩ độ của mình. Tuy nhiên, chỉ riêng vĩ độ là không đủ để xác định một vị trí trên bề mặt Trái đất. Vì thế tuy nhiều nền văn hóa thực hiện thành công các chuyến thám hiểm trên biển chỉ nhờ quan sát sao, thời tiết và các dòng hải lưu, “bài toán kinh độ” từng là nỗi kinh hoàng của các thủy thủ trong nhiều thiên niên kỷ.

Hiện ở Nam bán cầu không có ngôi sao tương ứng với Bắc đẩu. Hơn nữa, Bắc đẩu không phải là chỉ dẫn thật chính xác của cực Bắc, vì ngoài chu trình quay 24 giờ, trục Trái đất cũng chuyển động theo hình nón. Do đó hình chiếu trục trái đất trên bầu trời sẽ là một vòng tròn chu kỳ 26.000 năm. Vì thế Bắc đẩu cũng thay đổi theo thời gian. 5.000 năm trước, trục Trái đất hướng tới chòm Draco và Bắc đẩu là sao Thuban. Tương tự, 12.000 năm sau, sao Vega trong chòm Lyra sẽ là sao Bắc đẩu.
Năng lượng mặt trời sẽ được đóng chai trong 10 năm tới

Năng lượng mặt trời sẽ được đóng chai trong 10 năm tới



Các nhà khoa học Thụy Điển đã phát triển một loại chất lỏng đặc biệt có thể hấp thu năng lượng mặt trời, được đóng vào chai lưu trữ trong gần hai thập kỷ và lấy ra dùng khi cần.

Theo tờ science alert, chất lỏng đặc biệt mà các nhà khoa học từ Đại học công nghệ Chalmers, Thụy Điển đã nghiên cứu hoàn thiện suốt hơn một năm qua thực sự làphân tử dạng lỏng.


Mỗi chai đóng 1kg chất lỏng chứa đến 250 watt.

Phân tử gồm carbon, hydro, nito, khi ánh sáng mặt trời chiếu vào các liên kết giữa những nguyên tử được sắp xếp lại và biến thành một phiên bản mới dự trữ năng lượng.

Giống như con mồi bị mắc bẫy, năng lượng mặt trời do đó được lưu trữ ngay cả khi phân tử nguội đi. Đến mùa đông, hoặc ban đêm, nó sẽ giải phóng năng lượng dưới dạng nhiệt.

Kasper Moth-Poulsen từ Đại học Chalmers cho biết: "Năng lượng trong khối chất lỏng được lưu trữ đến 18 năm. Khi chúng tôi trích xuất năng lượng và sử dụng nó, chúng tôi nhận được sự gia tăng nhiệt độ hơn cả sự mong đợi".

Các nhà nghiên cứu kỳ vọng phát hiện mới này có thể được áp dụng rộng rãi cung cấp năng lượng cho hộ gia đình, nhà máy, khu công nghiệp trong tương lai 10 năm tới. Mỗi chai đóng 1kg chất lỏng chứa đến 250 watt, gấp đôi năng lượng dự trữ của pin năng lượng mặt trời Powerwall của Tesla.
Lý giải được tại sao CRISPR/Cas9 chưa thu được hiệu quả ở người

Lý giải được tại sao CRISPR/Cas9 chưa thu được hiệu quả ở người



Theo các nhà khoa học Đức, sở dĩ khoa học chưa thành công trong việc chỉnh sửa bộ gene người bằng cách sử dụng công nghệ CRISPR có thể là do hệ miễn dịch của người phản ứng với với protein Cas9 như một tác nhân ngoại lai cần được trung hòa.

Theo tạp chí Nature Medicine, việc các nhà khoa học chưa thành công trong việc chỉnh sửa bộ gene người bằng cách sử dụng công nghệ CRISPR có thể là do hệ miễn dịch của người.


Tế bào miễn dịch phản ứng với protein Cas9 nên ta chưa thể dùng công nghệ CRISPR trên người.

Hóa ra, các tế bào miễn dịch phản ứng với protein Cas9, được sử dụng trong phương pháp này, vì protein này có mặt trong các tế bào của các vi khuẩn liên cầu streptococcus thường gặp.

Công nghệ chỉnh sửa gene CRISPR/Cas9, còn được gọi là chiếc kéo phân tử, mở ra hy vọng lớn trong việc điều trị các bệnh di truyền. Với sự trợ giúp của CRISPR/Cas9, khá nhiều bộ gene của nhiều loài động vật và thực vật khác nhau đã được chỉnh sửa, tuy nhiên, trong trường hợp muốn thay đổi tế bào ở người thì hóa ra lại khó khăn hơn nhiều và có thể xuất hiện đột biến tai hại không lường.

Để đánh giá đầy hơn những rủi ro của việc sử dụng công nghệ này ở người, chúng ta vẫn còn quá ít thông tin. Trong công trình nghiên cứu mới, các nhà khoa học ở Trung tâm Y tế Charite (Đức) nhận thấy khả năng miễn dịch của người phản ứng với protein Cas9 như một tác nhân ngoại lai cần được trung hòa. Ông Michael Schmuck, trưởng nhóm nghiên cứu giải thích rằng một phần của hệ CRISPR/Cas9 là protein Cas9 có nguồn gốc từ vi khuẩn liên cầu streptococcus. Do nhiễm khuẩn liên cầu khá phổ biến ở người nên có khả năng hệ miễn dịch “nhớ Cas9”.

Trong khuôn khổ của công trình mới, các nhà khoa học đã có thể tìm thấy ở hầu hết tất cả những người khỏe mạnh tham gia nghiên cứu loại tế bào miễn dịch - tế bào lympho T, phản ứng với họ protein Cas. Các protein tương tự ở các vi khuẩn khác như staphylococci hoặc các loài vi khuẩn trong đường tiêu hóa, cũng có thể gây một phản ứng miễn dịch. Nhà nghiên cứu Dimitros Wagner giải thích rằng “các tế bào miễn dịch này có thể là nguyên nhân gây ra các tác dụng không mong muốn trong liệu pháp gene và có thể làm giảm hiệu quả và gây mất an toàn”.

Điều đó cũng có thể liên quan đến toàn bộ phương pháp CRISPR/Cas9 và chúng ta nên chuẩn bị cho vấn đề này. Bây giờ các nhà khoa học đang phát triển một công nghệ cải tiến sẽ giúp tránh những phản ứng miễn dịch không mong muốn.

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2018

Lộ diện robot “siêu nhỏ” có thể tải vật nặng gấp… 40 lần trọng lượng của mình

Lộ diện robot “siêu nhỏ” có thể tải vật nặng gấp… 40 lần trọng lượng của mình



Các chuyên gia robot của Đại học Stanford (Mỹ) vừa phát triển một loại robot tí hon có khả năng vô cùng hữu ích trong các nhiệm vụ cứu nạn ở không gian nhỏ hẹp.

Trong tài liệu Đại học Stanford công bố trên tạp chí Science Robotics cho thấy loại robot siêu nhỏ mới có thể di chuyển trên không cùng tải trọng lớn hơn 40 lần trọng lượng của chúng. Tên của loại robot này là FlyCroTugs.

Không chỉ thế, trên Foxnews, các chuyên gia của Đại học Stanford còn trình diễn khả năng các loại robot cùng loại có thể di chuyển các vật thể lớn hơn nhiều nếu kết hợp một cách nhuần nhuyễn như mở cửa, mang chai nước.


FlyCroTugs – loại robot mới đang được chuyên gia tại Đại học Stanford phát triển được kì vọng sẽ hỗ trợ cho công tác cứu nạn trong tương lai.

Theo tiết lộ của các chuyên gia, các loại robot FlyCroTugs được tích hợp một chất kết dính được thiết kế đặc biệt tương thích với các bề mặt khác khác nhau lấy cảm hứng từ cách bắt mồi của loài tắc kè và vận chuyển của ong bắp cày.

"Bình thường ong bắp cày có thể bay rất nhanh đến một miếng thức ăn hấp dẫn chúng. Tuy nhiên, nếu xác định miếng thức ăn quá nặng để mang vác về tổ, chúng sẽ kéo dọc nó trên mặt đất”, chuyên gia Mark Cutkosky, đến từ Đại học Stanford cho biết.

Đây chính là một trong những yếu tố tạo cảm hứng để các chuyên gia phát triển cách thức mang vác vật nặng có trọng lượng lớn hơn cơ thể của mình với robot FlyCroTugs.

Với cách thức áp dụng từ cách di chuyển của ong bắp cày, loại robot này được cho có thể sẽ rất hữu ích trong việc điều hướng trong các không gian nhỏ đối với các nhiệm vụ tìm kiếm và cứu nạn trong tương lai.

Không chi thế, các loại robot FlyCroTugs còn có khả năng mang vác được các chai nước hay máy ảnh đến một khu vực cần cứu nạn hoặc nguy hiểm với con người để người điều khiển có thể đánh giá được mức độ nguy hiểm từ xa.

Hiện tại, các chuyên gia từ đại học Stanford vẫn đang trong quá trình hoàn hiện và nghiên cứu những ứng dụng thực tế của loại robot mới này vào trong thực tế.